Bài viết này mục đích sưu tầm những kiến thức cơ bản cần biết để có thể viết được một vài script đơn giản. Hi vọng bài này sẽ giúp ích cho những ai mới bắt đầu học viết shellscript trên linux. Do trình mình cũng hơi chuối nên có thể sẽ sai sót, mong các bạn thông cảm nhé ^^

Biến đặc biệt

Biến đặc biệt Ý nghĩa
$0 Chứa tên file script hiện tại
$n ($1, $2,..$n) Với n có thể là 1, 2,… tương ứng với các tham số đưa vào khi gọi script

VD: ./test.sh so01 so02 so03

Như VD trên thì có 3 tham số được đưa vào là so01, so02, so03 tương ứng với $1, $2, $3.

$# Tổng số tham số đã cung cấp cho script. Dựa theo VD trên thì kết quả khi dùng biến này sẽ ra 3
$* Chứa tất cả tham số được đưa vào script. Nếu script nhận 3 tham số thì giá trị sẽ là $1 $2 $3 khi sử dụng
$@ Chứa tất cả tham số nhưng phân biệt thành những tham số riêng lẽ không như $* được đưa vào script. Nếu script nhận 3 tham số thì giá trị sẽ là $1 $2 $3 khi sử dụng
$? Trạng thái thoát ra của lệnh trước được chạy (thường la 0 đại diện cho lệnh trước chạy thành công, khác 0 là failed) Max range [0 – 255]
$$ Số tiến trình của shell hiện tại. Đối với Shell script đây là số ProcessID mà chúng đang chạy
$! Số tiến trình của lệnh background trước

Sự khác nhau giữa $* và $@

Về cơ bản thì $* và $@ giống nhau khi sử dụng với biến đợn không đặt trong dấu “”. Khi đặt vào trong dấu nháy kép “” thì:

  • $*: Các tham số đưa vào sẽ được nối thành một chuỗi và được phân cách nhau bởi dấu cách.
  • $@: Các tham số đưa vào sẽ được phân biệt một cách riêng lẽ từng tham số một.

VD:

Kết quả khi chạy script trên sẽ là: ./test.sh my name is Dang

Khi sử dụng “$*” thì các tham số được xem là một chuỗi phân biệt bởi khoảng trắng

Khi sử dụng “$@” thì các tham số được xem như các biến riêng lẽ được đặt trong một mảng

Mảng

Cú pháp khai báo:

VD: list=(coffee water beer)

Lấy số lượng phần tử của mảng:

VD: elements = ${#list[@]}

Truy xuất phần tử trong mảng:

VD: ${list[0]} sẽ cho giá trị đầu tiên trong mảng là coffee

Tìm và thay thế phần tử trong mảng:

VD: ${list[@]/coffee/milk} lệnh này sẽ thay thế phần tử có giá trị coffee thành milk

Các toán tử cơ bản

Về cơ bản thì shell linux sử dụng các toán tử cơ bản như các ngôn ngữ lập trình khác như C/C++, Java,… Tuy nhiên với toán tử nhân khi sử dụng nên dùng \* để phân biệt với lệnh bất kì * của linux

Để thực hiện phép tính cộng, trừ, nhân, chia có 3 cú pháp sau:

  • Sử dụng cú pháp: expr op1 <phép tính> op2 (để trong 2 dấu không phải nháy đơn đây là để thực thi lệnh shell expr)

VD:

  • Sử dụng cú pháp let “phép tính”

VD:

Ngoài ra let có thể sử dụng các toán tử +=, -=, =+, =- khá tương tự như trong C/C++ và java

  • Sử dụng cú pháp: $((…))

VD:

Đối với chuỗi thì khi sử dụng toán tử = có nghĩa là thực hiện so sánh 2 chuỗi với nhau chứ không phải toán tử gán dành cho số

Một số toán tử dành cho chuỗi

Giả sử có biến a giữ giá trị “abc” và b giữ giá trị “def”

Toán tử Miêu tả Ví dụ
= Kiểm tra giá trị của 2 chuỗi có bằng nhau hay không. Nếu bằng thì trả về giá trị đúng $a = $b sẽ cho ra kết quả là sai
!= Kiểm tra sự khác nhau giữa 2 chuỗi. Nếu khác nhau thì trả về giá trị đúng $a != $b sẽ ra kết quả là đúng

Phép toán logic

Toán tử Miêu tả Ví dụ
!<biểu thức> Phép NOT If [ ! “$a” == “$b” ]
<biểu thức 1> -a <biểu thức 2> Phép AND if [ “$a” == “$b” -a “$c” == “$d” ]
<biểu thức 1> -o <biểu thức 2> Phép OR if [ “$a” == “$b” -o “$c” == “$d” ]

Lưu ý: Phải có các khoảng trắng giữa toán tử và biểu thức để tránh bị lỗi syntax

Câu lệnh điều kiện

Các mẫu câu lệnh:

  • Lệnh if … fi

Cú pháp:

  • Lệnh if … else … fi

  • Lệnh if … elif … else … fi

Khi có nhiều lựa chọn về các điều kiện thì ta nên sử dụng cấu trúc case … esac thay vì sử dụng nhiều câu lệnh if lồng nhau.

Cấu trúc lệnh case … esac:

VD:

Lưu ý: Cú pháp đúng có khoảng trắng giữa condition với []

Case…asce mỗi trường hợp có thể lồng nhiều điều kiện chung nhóm tại giá trị mẫu và cách nhau bởi dấu |

Vòng lặp

Khi ta có một mảng và cần duyệt toàn bộ trên đó để lọc phần tử trong mảng để sử dụng cho mục đích nào đó ta không thể truy xuất từng phần tử trong mảng bằng lệnh if, nếu mảng có n phần tử thì ta phải viết n lệnh if tương ứng. Vì vậy mà shell cung cấp chúng ta vòng lặp như các ngôn ngữ khác để tiện hơn trong quá trình lập trình.

Có 4 loại vòng lặp trong shell là:

  • Vòng lặp for: Hoạt động dựa trên danh sách của các mục. Nó lập đi lập lại một tập các câu lệnh cho mỗi mục có trong danh sách. Có thể sử duyệt mảng với điều kiện cho trước (khá giống với trong C/C++)

VD:

Vòng lặp for cho các danh mục có sẵn

Vòng lặp for dùng cho duyệt mảng

  • Vòng lặp while: Chủ yếu sử dụng vòng lặp này khi ta muốn thực thi một tập lệnh lặp đi lặp lại nhiều lần trong khi điều kiện vẫn còn đúng. (Ở phần điều kiện nếu là true thì vòng lặp while sẽ được thực thi)

VD:

Vòng lặp while

  • Vòng lặp until: Ngược lại với while, vòng lặp này sẽ thực thi tập lệnh của nó khi giá trị điều kiện là sai. Nó sẽ chạy tới khi thỏa mãn điều kiện là đúng.

VD:

  • Vòng lặp select: Vòng lặp cung cấp một danh sách menu từ một tập các phần tử được cho có đánh số ở đầu để lựa chọn. (Đây là vòng lặp có sẵn trong ksh được điều chỉnh vào bash. Nó không có sẵn trong bash

VD:

Kết quả xuất ra sẽ cho 1 danh sách lựa chọn

Trạng thái Exit

Mặc định trong linux khi một lệnh hoặc một script được thực thi, nó sẽ trả về 2 loại giá trị để xác định xem là lệnh hoặc script đó thực thi có thành công hay không.

  • Giá trị 0: Tức là lệnh hoặc script đã thực thi thành công.
  • Giá trị trả về khác không: Tức là lệnh hoặc script khi thực thi đã gây lỗi.

Giá trị này gọi là trạng thái Exit

Các lệnh điều hướng

Đề thực hiện điều hướng lại output ra một file cũng như input lấy đầu vào từ một file ta có thể sử dụng các cú pháp sau:

Ký hiệu Ý nghĩa
> Điều hướng output ra một file và ghi đè toàn bộ nội dung một file đã có. Nếu chưa có thì sẽ tạo file mới.

VD: ls > listfile

>> Điều hướng output ra một file đã có và ghi vào cuối file đó. Nếu file chưa có thì sẽ tạo file mới

VD: ls >> listfile

< Lấy dữ liệu cho câu lệnh linux từ một file

Ngoài ra có một số trường hợp chúng ta không muốn kết quả output xuất ra file hoặc terminal ta có thể loại bỏ output bằng cách điều hướng nó vào tệp /dev/null. Đây là tệp đặc biệt sẽ tự động loại bỏ tất cả input của nó.

Có thể loại bỏ đầu ra của một lệnh và đầu ra bị lỗi của lệnh đó bằng việc thêm 2>&1 với 2 là STDERR được điều hướng lại ra 1 là đại diện cho STDOUT.

Cú pháp: command > /dev/null 2>&1

Hàm trong Shell

Cú pháp:

Truyền tham số cho hàm tương tự như truyền tham số cho file script. Các biến tham số lần lượt là $1, $2, … $n. Tuy nhiên những biến này là biến local chỉ có giá trị trong hàm và không ảnh hưởng gì tới các biến tham số được đưa vào script. Các biến còn lại thì có giá trị toàn cục, chẳng hạn ta khai báo một biến trong hàm, khi ra khỏi hàm khi truy xuất ta vẫn nhận được giá trị của biến đó khi được gán trong hàm

VD:

Lúc này kết quả output khi chạy script sẽ là Hello world Hai Dang

Trả về giá trị từ một hàm tương tự như thực hiện return giá trị trong các ngôn ngữ lập trình khác. Sử dụng $? Để lấy giá trị trả về (chỉ nên sử dụng return khi trả mã lỗi). Ngoài ra có thể sử dụng echo để lấy giá trị trả về, khi sử dụng echo thì chỉ nên echo 1 lần trong hàm với giá trị cần lấy, có nhiều echo thì kết quả từ lệnh echo đầu tiên trong hàm sẽ được gán cho biến bên ngoài, cũng có thể sử dụng biến global để lấy giá trị)

Lưu ý: Khuyến khích có chữ function trước tên hàm để dễ phân biệt function tenham()

Lệnh read – đọc giá trị nhập từ bàn phím, file,…

Dùng để lấy dữ liệu nhập từ bàn phím hoặc từ một file và lưu vào biến.

Cú pháp:

Nếu sử dụng read nhưng không kèm tham số thì giá trị sẽ được lưu vào biến $REPLY

Khi có nhiều biến thì mỗi biến sẽ được gán một phần giá trị trong dòng mà read nhận được. Nó được phân cách bởi giá trị của biến $IFS, theo mặc định thì biến $IFS chứa ký tự khoảng trắng. Khi đó mỗi biến sẽ giữ một chuỗi được cách biệt bởi kí tự của $IFS chứ không phải là một dòng. Biến cuối cùng sẽ giữ các giá trị còn lại của dòng đó.

VD:

Minh họa cho ví dụ sử dụng nhiều biến để nhận giá trị nhập vào từ lệnh read

Như ví dụ trên thì giá trị của biến $var1 và $var2 được tách ra từ cả dòng nhập vào và được phân biệt bởi khoảng trắng (giá trị mặc định $IFS – Internal File Separator). Nếu ta muốn chỉnh lại cách phân biệt thì ta chỉ cần sửa lại giá trị cho biến $IFS.

Ví dụ trên ta lấy một dòng trong file /etc/passwd và dùng dấu “:” để phân biệt các giá trị tách ra từ dòng.

Lưu ý: Khi thay đổi biến $IFS thì sau khi sử dụng xong ta nên trả lại giá trị mặc định cho IFS bằng lệnh unset

Đối với file thì ta sử dụng ký tự điều hướng < với cú pháp:

Ngoài ra khi sử dụng nên thêm cờ -r để ngắt dòng khi nhận kí tự xuống dòng và không thực hiện ghi tiếp khi gặp kí tự “\”

Link:

http://tldp.org/LDP/Bash-Beginners-Guide/html/index.html

http://vietjack.com/unix/shell_la_gi_trong_unix_linux.jsp

https://www.cyberciti.biz/faq/bash-for-loop/

Lập trình Bash Shell cơ bản – Phần 1
Đánh giá bài viết này

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here